Thứ Tư, 25 tháng 12, 2013

Cùng đọc lại Cổng làng.

Mở - Hé

Cổng làng

Việc làng. Dù đi đâu về đâu thì người làng Chùa cũng lấy đó làm cái nếp để ứng xử. Đó đã và vẫn là đặc điểm của người Việt. Một câu chuyện. Chùa làng. Hán. Mỗi làng là một thân phận. Pháp ở lại và nhòe lẫn trong văn hóa Việt không thể phân biệt đến nay đã trở thành truyền thống. Trọng chữ nghĩa. Ở làng. Nho. Do vẫn còn một cái khe rất mỏng mà chủ nhà cố để hở nhằm hé lộ về mình.

Ra ngoài thì giữ lễ nghĩa. Mỗi làng mỗi cổng. Cổng làng. Văn hóa Việt vẫn còn. Về nhà thì luôn phải giữ chữ hiếu. Cái cánh đóng giúp bảo tàng. Phận làng. Chàm. Ít nhiều dáng dấp tính cách của làng. Bắt đầu của một cái làng là cái cổng làng.

Muốn hiểu người Việt. Người làng. Cổng làng Ước Lễ. Mỗi thân mỗi phận. Khép kín để bảo tàng. Tự là văn. Phật. Mỗi cổng làng cũng có một thân phận.

Đường làng. Trọng văn hóa dù là ở làng với nhau hay khi ra ngoài từng lớp cũng vậy. Đấy là bản chất của người Việt vừa khép kín vừa cởi mở. Đình làng. Ao làng. Những Ấn. Tiêu diệt văn hóa Việt nhưng người Việt vẫn còn. Bài và ảnh: LÊ THIẾT CƯƠNG. Và còn nhiều cổng làng khác. Cái cánh mở giúp cho hòa nhập. Trên cũng đề bốn chữ “Nhập Hiếu. Về làng. Là văn hóa. Mấy ngàn năm lịch sử. Việc làng cũng là việc nước.

Lão đến đây hòa hợp. Ở làng Cựu có một cái cổng. Đóng - Khép. Tính cách Việt thì cứ nghiên cứu làng là đủ.

Cổng làng Chùa có bốn chữ “Vọng Tự Nhập Xuất”. Xuất Đễ”. Chuyện làng cũng là chuyện nước. Giặc ngoại xâm bằng mọi cách nô dịch và đồng hóa. Cho dù kín cổng cao tường đến mấy thì khách phương xa chả cần tinh ý cũng nhận ra đôi ba nét đại quát tính cách của “chủ nhà” qua cánh cổng.

Đó là cái năng khiếu đóng - mở tùy thì của người Việt. Giao hòa với văn hóa bản địa theo kiểu “thuận theo tự nhiên mà làm”. Và cởi mở để giao lưu.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét