Thứ Ba, 23 tháng 7, 2013

Con đường chinh phục thế giới của các biểu trưng Emoji

Hiện thời chúng ta đã quen với các biểu trưng tròn tròn vàng vàng, hay còn gọi là emoji , vì nó được sử dụng hết sức rộng rãi trong các cuộc đối thoại trên mạng. Nó giúp cho cuộc bàn thảo của chúng ta vui vẻ hơn, sinh động hơn. Đây cũng là công cụ giúp trình bày được phần nào cảm xúc của người viết, thứ không đơn giản chỉ có thể thể hiện qua những dòng chữ trên màn hình. Vậy sự ra đời của Emoji ra sao và làm thế nào mà những tượng trưng này có thể trở thành phổ quát như ngày bữa nay? Mời các bạn cùng theo dõi câu chuyện được kể bởi chính cha đẻ của Emoji.

Đầu tiên chúng ta hãy nói một tí về chữ emoji. Chữ này có tức là "hình tượng" và nó được kết hợp từ chữ "hình ảnh" (e) và "chữ" (moji). Mỗi biểu trưng emoji có thể được xem là một "kí tự". So với emoticon , Emoji khác ở chỗ nó là nhữngbiểu tượng, thí dụ như. Ngoài những khuân mặt như trên, emoji còn có rất nhiều hình ảnh khác, chả hạn như, một số còn mang đậm văn hóa Nhật như tượng trưng người cúi đầu chào, một người đeo khẩu trang, mì ramen, sushi, ca ri Nhật... Những nhà mạng lớn ở Nhật như NTT DoCoMo , au, Softbank đều có một bộ emoji của riêng mình. Mãi đến gần đây mới bắt đầu có những động thái chuẩn hóa.

Trong khi đó, theo Wikipedia, emoticon là những "khuôn mặt" được cấu tạo từ cáckí tự trên bàn phím, ví dụ như :-( :"> :-? ;-) :-w. Khi gõ lên một số dịch vụ, áp dụng, trang web, diễn đàn online (như Tinh tế chả hạn), các kí tự này sẽ được thay thế bởi hình ảnh tương ứng và người ta cũng gọi nói là emoticon.. Trên những hệ điều hành được hỗ trợ, bạn có thể dễ dàng copy, cắt, dán các emoji vào khung soạn thảo văn bản bởi chúng là những biểu tượng và OS đối xử với nó như bao chữ cái khác. Còn những hình ảnh như icon mặt cười của Tinhte, của Yahoo, Facebook thì khi bạn copy vào khung soạn thảo, chúng sẽ mất đi hoặc thậm chí là không cho paste.

Mặc dầu xuất hiện trước hết ở Nhật, giờ một số emoji đã được tích hợp vào bảng mã Unicode, nhờ thế mà chúng ta có thể dùng được emoji ở nhiều nơi. Các máy Windows Phone 7 và iPhone cho phép người dùng truy cập vào những emoji mà không cần đến các nhà mạng Nhật Bản. Emoji cũng đã xuất hiện torng Gmail và nhiều trang web cũng như dịch vụ email khác. Nhiều ứng dụng SMS trên Android cũng được tích hợp hoặc có plugin để dùng Emoji. OS X 10.7 trở đi cũng đã hỗ trộ Emoji.

Sự ra đời của Emoji


Năm 1995, máy nhận tin nhắn (pager, có người gọi là máy nhắn tin) trở thành cơn sốt trong giới trẻ Nhật Bản. Nếu bạn chưa biết máy nhắn tin là thì đó là một tổ hợp thiết bị - dịch vụ dùng để giao thông với nhau trước khi điện thoại di động trở nên phổ quát. Máy nhắn nhe thực chất cũng đã từng có mặt ở Việt Nam và cũng được khá nhiều người sử dụng trong những năm cuối thập niên 90. Khi đăng kí dùng chiếc máy này, bạn sẽ được cấp một số duy nhất, có tác dụng giống số điện thoại. Lúc cần nhắn gì cho bạn, người nhà hay bạn bè sẽ gọi lên một tổng đài, nói với tổng đài viên nội dung cần nhắn và họ sẽ chuyển thông điệp đó đến thiết bị nhỏ nhỏ mà bạn đang cầm trong tay. Nghĩa là thay vì bạn nhắn SMS trực tiếp thì hiện thời chúng ta phải gián tiếp phê chuẩn một cô tổng đài dễ thương nào đó. Có một số máy pager hai chiều, tức bạn cũng có thể nhắn lại, nhưng không phổ thông lắm.

Chà, nãy giờ nói hơi nhiều về máy nhắn, giờ thì quay trở lại vấn đề chính nào. Khi máy nhắn nhe trở nên phổ thông tại Nhật, nhà mạng NTT Docomo quyết định thêm biểu trưng trái tim vào dịch vụ của mình để giúp các bạn học trò trung học biểu hiện được tình cảm (và cả sự đáng yêu) ưng chuẩn hàng triệu tin nhắn được gửi đi mỗi ngày. Docomo đã rất thành công và thị phần máy nhắn của hãng lên đến 40% ở Nhật. Lúc đó, Docomo cung cấp cho khách hàng của mình chiếc máy nhận tin nhắn của Pocket Bell.

Khi phiên bản Pocket Bell mới ra đời, nó không còn tương trợ hiển thị biểu trưng trái tim nữa mà thay thế bằng những thứ thân thiện với việc kinh doanh, ví dụ như chữ Kanji, kí tự Latin alphabet. Chính nên chi mà giới trẻ mau chóng rời bỏ dịch vụ của Docomo và tìm đến sản phẩm của đối thủ Tokyo Telemessage. Vào thời điểm mà Docomo nhận ra rằng họ đã đánh giá sai về nhu cầu đối với những máy nhắn nhe "business", nhà mạng này rất cần một thứ gì đó đủ mạnh để kéo những khách hàng chủ chốt của mình quay trở lại. Và thứ đó chính là emoji.

Shigetaka Kurita là người đã tạo ra emoji, và trong thời gian anh làm việc tạo Docomo, anh đã trực thu nạp thấy sự đổi thay về nhu cầu của người sử dụng các máy nhắn tin. Lúc đó anh đang là một thành viên thuộc nhóm i-mode - dự án được tạo ra để thiết lập một nền tảng Internet di động toàn cầu, trong đó bao gồm những thứ như dự báo thời tiết, đọc tin, xem email... I-mode sau đó trở nên phổ biến và nó đã giúp người Nhật sử dụng được những thứ mà phải 10 năm sau thế giới mới được tiếp cận.

I-MODE


I-mode là một dịch vụ Internet di động tích hợp được tạo ra bởi NTT Docomo. Được triển khai vào tháng 2 năm 1999, i-mode cung cấp một bộ các dịch vụ được biết rằng ngôn ngữ Compact HTML, trong đó có những dịch vụ dùng để dự báo thời tiết, đặt chỗ ở các dịch vụ tiêu khiển và du lịch, xem tin, duyệt email. Ở những buổi đầu, i-mode có thể xem là một "khu vườn kín" bởi các công ty cung cấp nội dung đòi hỏi Docomo phải đưa website của họ đến với khác hàng phê duyệt cổng thông báo có tính tuyển lựa lung tung cao của nhà mạng. Nhưng không giống như App Store hay Google Play, các nhà cung cấp nội dung cho i-mode thu đến 91% doanh thu từ các dịch vụ mà người dùng đăng kí với giá 100 yên đến 300 yên mỗi tháng (khoảng 0,85$ đến 2,50$ tính theo tiền tệ năm 2000). Và dù rằng Docomo kiểm soát cổng trực tuyến của mình rất chặt, người dùng vẫn có thể truy cập vào trang web bên ngoài bằng đường link gửi trong email hay nhúng trong mã QR (cũng giống như việc chúng ta cài app bằng file APK vào Android vậy).

I-mode tức khắc trở thành một cú hit ở Nhật, và trong chỉ hai năm Docomo đã có 20 triệu người dùng đăng kí sử dụng dịch vụ này, đến năm 2004 thì tăng thành 40 triệu. Một thời gian ngắn sau khi i-mode trình làng, những nhà mạng đối thủ như J-Phone (giờ là Softbank) và DDI Cellular Group (giờ là AU KDDI) cũng chóng vánh triển khai dịch vụ J-Sky và EZweb dựa trên giao thức WAP, nhưng cả hai đều không thành công như sản phẩm của Docomo.

Docomo bản tính cũng đã thử cung cấp bản quyền i-mode sang các nước Châu Âu và Châu Á trong những năm 2000, tuy nhiên đến nay thì dịch vụ này đã hoàn toàn biến mất ở những nước này. Chỉ có ở Nhật Bản, i-mode hiện vẫn duy trì số lượng người dùng là 35 triệu, trong đó gần phân nửa là những người đã trên 50 tuổi.

Tuy nhiên, ở thời khắc dự án mới bắt đầu, nhóm i-mode cần phải có được những ý tưởng tốt, do đó họ muốn xem những áp dụng về mobile Internet mà các nước khác đang làm. Kurita cùng nhóm của mình đáp chuyến bay đến San Francisco vào năm 1998 để xem dịch vụ Pocket Net của AT&T. Đây là dịch vụ trước tiên trên thế giới có khả năng cung cấp những thứ như email, dự báo thời tiết ưng chuẩn một mạng di động. Nó dùng dịch vụ gửi dữ liệu số dạng gói (CDPD) của AT&T và có thể đạt tốc độ truyền tải là 19Kbps (để dễ so sánh thì mạng 4G LTE của AT&T bây giờ có tốc độ 9,6Mbps, nhanh hơn 500 lần).

Kurita nói: "Ở thời khắc đó, cấu hình của các thiết bị cầm tay rất thấp, do đó nó chẳng thể hiển thị được một số nội dung đa dụng cụ, như hình ảnh chẳng hạn". Pocket Net có thể cung cấp tin tức về thời tiết, nhưng những hiện tượng như "trời nhiều mây" hay "trời nắng" chỉ được biểu hiện bằng chữ mà thôi. Việc thiếu đi một cách hiển thị trực giác khiến dịch vụ này khó dùng hơn ý tưởng ban sơ, và Kurita nhận ra rằng trải nghiệm của các khách hàng ở AT&T có thể tốt hơn bằng cách thêm vào một số kí tự để hiển thị những thông báo tùy theo ngữ cảnh.

Cũng trong khoảng thời kì đó (thật ra là trước đó 3 năm), Windows 95 chính thức được Microsoft ra mắt, và email cũng đang trên đà phát triển tại Nhật cũng giống như khuynh hướng của máy nhắn tin. Tuy nhiên, Kurita nói rằng người ta khá "chật vật" khi phải làm quen với cách thức giao tiếp mới này. Trong văn hóa của Nhật, những lá thư cá nhân chủ nghĩa rất dài, trong đó chứ đầy những lời chúc nhau cũng như những lời nói đầy kính cẩn để diễn tả lòng tốt của người gửi thư đối với người nhận. Trong khi đó, email lại ngắn và có bản chất "đời thường" hơn nên nó khiến người ta không thoải mái khi sử dụng. "Nếu có ai đó nói Wakarimashita (có tức thị tôi hiểu rồi), bạn sẽ không biết được rằng người ta hiểu một cách vui vẻ hay "ừ đấy, tôi hiểu rồi", tức mang hơi hướng bị động", Kurita nói. "Bạn không biết được những gì đang xuất hiện trong đầu người viết."

Việc hội thoại trực tiếp với nhau, và ngay cả trên điện thoại, cho phép bạn đánh giá được trạng thái tâm lý của người kia như thế nào nhờ vào giọng nói, và na ná như thế, là thư dài giúp người ta thanh minh được những thông báo văn cảnh. Chính sự thiếu hụt về khả năng này đã khiến cho việc giao du trong thời đại kĩ thuật số trở nên khó khăn, người ta cảm thấy cách biệt nhau hơn, trong khi đích của việc giao tế kĩ thuật số là mang thế giới lại gần nhau.

Kurita chia sẻ: "Và đó là thời khắc mà chúng tôi nghĩ rằng, nếu có những thứ như emoji, chúng tôi có thể vẽ ra được những khuôn mặt. Chúng tôi đã có kinh nghiệm với biểu trưng trái tim rồi, do đó chúng tôi nghĩ điều đó (khuôn mặt emoji) là điểu hoàn toàn có thể làm được". Bản tính vào thời khắc đó người ta cũng bắt đầu biết đến kaomoji, nghĩa là cách sử dụng những kí tự ASCII để miêu tả xúc cảm, dạng như (^_^) (*´▽`*)(≧▽≦)(っ^_^)っ (つ゚⊿゚)つ. Tuy nhiên, theo Kurita, giải pháp này đích thực rất khó bởi người ta phải nhập rất nhiều kí tự từ bàn phím điện thoại (và không có bàn phím QWERTY đâu nhé), thế nên anh muốn tìm một thứ đơn giản hơn.

Thiết kế nên emoji

Bản thân Kurita không phải là một nhà thiết kế (anh chuyên về kinh tế hơn), kế hoạch của người viên chức trẻ tuổi này là vẽ ra một số ý tưởng để kêu gọi sự trợ giúp từ những nhà sinh sản lớn như Sharp, Panasonic, Fujitsu - những công ty có kinh nghiệm về thiết kế. Tuy nhiên, anh đã ngạc nhiên khi biết rằng những công ty này không san sẻ chung nhiệt huyết của anh vào thời điểm đó. "Họ kiểu như 'làm ơn đi, anh sẽ là người thiết kế chúng'. Họ có rất nhiều lý do, ví dụ như đây chỉ là những thiết bị đầy tiên tương trợ i-mode, họ không có nhiều người lực, đại loại như thế". Khi phải đối mặt với quá ít tuyển lựa, Kurita lấy vài tờ giấy, một cây bút chì, tụ họp nhóm của anh lại và họ bắt tay vào làm việc, ngay cả khi họ chưa biết mình sẽ phải làm gì. Kurita nhắm đến việc tạo ra một bộ 176 tượng trưng kích thước 12 x 12 pixel có khả năng mô tả hết trạng thái xúc cảm của quờ nhân loại.


Để có cảm hứng, Kurita nhìn vào nhiều nhân tố khác nhau trong tuổi thơ của chính mình, trong đó có những thứ như truyện tranh manga hay chữ kanji. "Trong thế giới truyện tranh Nhật Bản, có rất nhiều biểu tượng khác nhau. Người ta vẽ ra cảm xúc của con người bằng những giọt mồ hôi, biểu tượng bóng đèn. Do đó có nhiều tình huống mà tôi đã dựa vào đó như một lời gợi ý để sắp xếp mọi thứ lại". Từ chữ kanji, anh cũng tìm được cách diễn tả xúc cảm chỉ bằng một kí tự duy nhất.

Để hiển thị những biểu trưng này, Docomo quyết định sử dụng một vùng chưa dùng tới trong bảng mã Shift JIS của Nhật. Cứ mỗi mã 2 byte sẽ ứng với một hình ảnh và ắt đều sẽ được tích hợp vào những điện thoại của Docomo giống như bao kí tự khác. Người dùng sau đó có thể thêm những emoji vào thư của mình bằng cách chọn nó trong một giao diện bên trong ứng dụng Email. Docomo không chỉ nhắm đến việc dùng emoji trong thư điện tử mà họ còn muốn cho các nhà cung cấp nội dung truy cập vào kho tượng trưng và hiển thị nó lên các trang web i-mode. Zagat, Pia là hai trong số những nhà cung cấp nội dung trước tiên dự vào chương trình thể nghiệm việc dùng emoji, do đó logo của họ có trong bộ mã của Softbank (nhưng khoảng một hai năm sau thì chúng đã bị xóa đi khi hết giao kèo).

Với một tấm lưới 12 x 12, Kurita phải tận dụng tối đa không gian trong các bản vẽ của mình, do đó những kí tự mà anh vẽ ra lộn xộn đơn giản. Thí dụ, khuôn mặt cười đầu tiên chỉ có một cái miệng hình chữ nhật và hai chữ V úp trái lại để diễn ra hai con mắt. Thực chất, những emoji nguyên bản trông rất khác so với những khuôn mặt màu vàng hiện.

Khi được hỏi về lời nhận xét của Giáo sư Scott Fahlman, người nức danh vì tạo ra emoticon, rằng emoji là ngớ ngẩn, Kurita dấn "Đúng, chúng quả thực hơi ngớ ngẩn một chút". Phải nhà mạng au và các đối thủ cố gắn chuyển emoji thành các hình ảnh (image) thì Kurita lại xem emoji như là các biểu tượng (symbol). Vì biểu tượng thì gần giống với các chữ cái nên nó sẽ không bị tách biệt hoàn toàn khi chèn vào một câu chữ, và chúng ta cũng có thể dễ dàng chỉnh kích thước của nó như những symbol khác.

Vấn đề thiếu đồng nhất của emoji

Khi anh đã hoàn tất việc thiết kế bằng tay, Kurita nghĩ rằng những nhà sinh sản đã chối từ khéo anh trước đây sẽ thêm vào các nét hoàn thiện rốt cục để tác phẩm trở nên đẹp hơn, trông chuyên nghiệp hơn. "Tuy nhiên ai cũng lấy đúng những gì chúng tôi có và đưa vào ứng dụng y như thế", anh nói và cười. "Thế nhưng, điểm tốt ở đây đó là emoji của mọi người đều hoàn toàn giống nhau. Nếu mỗi nhà sản xuất lại thêm một chút gì đó dị biệt vào những tượng trưng này, emoji có thể đã trở nên rối tung và không đồng nhất, ngay cả trong nội bộ Docomo".


Dù rằng vậy, sự thống nhất đó cũng không kéo dài lâu. Docomo chẳng thể đăng kí bản quyền bộ emoji của mình (người ta nói với DoCoMo rằng "đây chỉ là những khối 12 x 12"), điều đó có tức thị những đối thủ như Au và J-Phone (sau này trở nên SoftBank) cũng có thể dùng emoji của Docomo. Thế nhưng hai nhà mạng đối thủ này lại thiết kế các biểu tượng của mình, họ thêm vào nhiều hình ảnh hơn, các hình ảnh thì trở thành chi tiết hơn, thậm chí một số còn có hiệu ứng chuyển động, để giữ chân khách hàng của mình.

Từ một thứ đáng lý ra phải đồng nhất, emoji trở nên một tụ tập những tượng trưng khác nhau ngay cả khi chúng cùng trình bày một nội dung, và emoji gửi từ nhà mạng này sang mạng khác thì không thể đọc được. Mãi đến năm 2005 thì ba nhà mạng này mới chịu "dịch" emoji theo đúng với bộ emoji do mình sở hữu. Hồi năm ngoái, trong vậy chuẩn hóa emoji, nhà mạng Au quyết định tái thiết kế lại bộ emoji của mình cho giống với bộ nguyên gốc của Docomo, và vậy đó nhận được sự giúp sức của Kurita. Mặc dù vậy, hiện thời vẫn còn có rất nhiều bộ biểu tượng tùy theo nhà mạng và điện thoại của người dùng. Hiện thời bộ sưu tập emoji của Docomo có 250 biểu tượng, không tính những cái có chuyển động. Trong khi một số thiết bị lại có khả năng hiển thị đến 800 emoji.


Trong lúc đàm luận về việc chuẩn hóa, phóng viên của trang The Verge hỏi Kurita rằng anh cảm thấy như thế nào khi biết rằng emoji giờ đây đã được bổ sung vào bảng mã Unicode, bộ mã chuẩn của toàn ngành công nghiệp máy tính và được hiển thị trên hồ hết những máy tính hiện giờ. Kurita giảng giải rằng mặc dầu hiện tại anh đã nghỉ làm ở Docomo, anh vẫn rất vui vì cột mốc này, nhưng bị thất vọng bởi vì việc áp dụng emoji bị phân mảnh nhiều quá. "Au cũng đã vờ emoji của họ giống với Docomo. Và mọi chuyện lẽ ra thật tuyệt giả dụ họ (Unicode) cũng dùng chung chuẩn đó".

Hiện những nhà mạng của Nhật vẫn chưa chuẩn hóa được một bộ tượng trưng chung nhưng điều đó không ngăn được emoji vươn ra tầm thế giới. Apple đã tương trợ một biến thể của bộ emoji do SoftBank thiết kế trong bản cập nhật iOS 2.2, chí ít là ở Nhật. Khi iOS 5 xuất hiện vào cuối năm 2011, Apple đã chính thức nhúng emoji vào sờ soạng các máy iOS của mình. Lúc người dùng biết được cách kích hoạt emoji, những tượng trưng ngộ như bộ mặt thè lưỡi, gương mặt lính dần xuất hiện nhiều hơn trên Twitter, Instagram, Tumblr. Hiện tại, chúng ta có thể thấy được những tượng trưng này ở khắp mọi nơi, từ những tin nhắn thân mật cho đến các dự án có hệ trọng đến emoji. Yahoo, Google Talk, Skype có những biểu trưng của riêng mình, nhưng chúng cũng trông giống với emoji và cũng dựa trên cùng một ý tưởng như thế.

Phóng viên The Verge tiết tục hỏi Kurita rằng anh nghĩ như thế nào khi thấy những đứa con của mình được phát triển trên toàn cầu, anh đáp: "Tôi rất hạnh phúc, nhưng thật lòng mà nói, đây không phải là thứ mà tôi có thể thật sự hiểu rõ. Nó rộng lớn quá, anh biết đấy". Anh đấu nói rằng anh rất tò mò về cách mà những người thuộc các nền văn hóa khác nhau dùng cùng một tượng trưng. "Tôi thật sự muốn biết rằng chúng được sử dụng giống nhau ở mức độ nào, và chúng được bản địa hóa ở mức nào. Tôi nghĩ rằng emoji trái tim được dùng bởi nhiều người với cùng một mục đích, nhưng rồi sẽ có những thứ mà chỉ có người Nhật mới hiểu, hoặc chỉ người Mỹ mới hiểu... Thật nhẵn nếu chúng ta có thể so sánh chuyện đó, để rồi mọi người có thể bắt đầu sử dụng emoji theo một cách giống nhau". Kurita mong muốn emoji có thể trở thành một thứ "ngôn ngữ thân thể" cho thế giới web.


Khi ra về, phóng viên The Verge hỏi Kurita một câu rút cuộc: "Anh nghĩ sao khi một cô gái gửi cho anh tượng trưng trái tim trong tin nhắn?" Kurati đáp: "Tôi không biết là cô ấy có thích tôi hay không", anh cười, "nhưng tôi chắc chắn nghĩ rằng đây là một điều tốt đẹp. Tôi sẽ không nghĩ đó là một chuyện xấu".

Nguồn: The Verge


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét