Trong khi tranh chấp cương vực trên bộ với các quốc gia láng giềng, trong đó có Ấn Độ, Bắc Kinh luôn khẳng định ranh giới trên bộ của họ chưa bao giờ được phân định, cắm mốc rõ ràng, thì khi nói tới các đảo, bãi ngầm và các rạn san hô trên các lãnh hải, Trung Quốc lại tuyên bố trái lại
Nhưng ông Philip Bowring cho biết trong lĩnh vực hàng hải, người Trung Quốc là “kẻ đi sau”. Do đó, dù rằng Trung Quốc trắng trợn yêu sách hơn 80% Biển Đông là “vùng nước lịch sử” của họ, thì theo cách đó, Mexico cũng được độc quyền chiếm vịnh Mexico, hay Iran đòi Vịnh Ba Tư, và Ấn Độ lấn Ấn Độ Dương y như vậy.
Hay nói cách khác, các tuyên bố ngang ngược từ quan chức trong chính quyền Bắc Kinh nhận các đảo, đá và các rạn san hô trên Biển Đông là “cương vực từ thời xa xưa” của Trung Quốc; hay việc nước này in cả “đường lưỡi bò” phạm pháp lên hộ chiếu và bản đồ mới đây đã trái với tinh thần của UNCLOS về việc bác bỏ các yêu sách “dựa trên lịch sử”.
Theo Giáo sư Mohan Malik, việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đắp tới hơn 80% diện tích Biển Đông dựa vào yêu sách “yếu tố lịch sử” đang đi ngược lại với UNCLOS mà chính nước đã ưng chuẩn năm 1996.
Chấp nhận phiên bản lịch sử của Trung Quốc cũng đồng nghĩa với việc chối bỏ lịch sử của các nước khác.
Trong số đó có việc cứ liệu tới sự bành trướng của chủ nghĩa đế quốc Mỹ và một số quốc gia châu Âu trong thế kỷ XVIII và XIX. Trên thực tiễn, có rất nhiều mâu thuẫn trong việc Trung Quốc dùng lịch sử để biện minh cho yêu sách của nước này trên Biển Đông. Ngay cả các tàu thuyền mà các nhà tu phật giáo Trung Quốc như Pháp Hiền tới Sri Lanka hay Ấn Độ vào thế kỷ V cũng do người Malay-Polynesian sở hữu và điều khiển
Một thí dụ cho điều này đó là: Đài Loan ban đầu được định cư bởi con cháu những người Malay-Polynesian, nên yêu sách đối với Đài Loan sẽ thuyết phục hơn nhiều so với Trung Quốc theo cách mà nước này đang vận dụng.
Giáo sư Mohan Malik cũng cho rằng chủ quyền và ranh giới trên biển hay các yêu sách lãnh thổ chồng lấn cần phải được giải quyết thông qua việc vận dụng pháp luật quốc tế hay nhờ tới sự can thiệp của Tòa án Quốc tế hay Tòa án Quốc tế về Luật biển theo đúng Phụ lục VII của UNCLOS.
Nó chỉ bắt đầu từ năm 1947, khi Quốc Dân đảng của Tưởng Giới Thạch vạch ra “đường 11 đoạn” trên Biển Đông. Ảnh minh họa: DNAIndia Hơn nữa, các yêu sách của Trung Quốc đối với Đài Loan và Biển Đông dựa trên cơ sở là cả hai khu vực đều là bộ phận của đế chế Mãn Châu.
Nhà phân tích lịch sử châu Á Philip Bowring nhận định: “Việc Trung Quốc biên chép lịch sử lâu đời không làm mất hiệu lực lịch sử các quốc gia khác, diễn tả qua các hiện vật, tiếng nói, dòng giống và các quan hệ di truyền, các chứng cớ về giao thương và đi lại”.
Vậy nên, việc Bắc Kinh nhất thiết đòi theo cách tiếp cận song phương và những tuyên bố của Trung Quốc về cái gọi là “chủ quyền chẳng thể tranh biện đối với Biển Đông” (có nguồn gốc vào cuối thập niên 1940 – chứ không phải trong lịch sử xa xưa) đang đặt ra một thách thức đối với cả thảy các quốc gia hàng xóm, giáo sư Mohan Malik nhận định trên Diplomat.
Nói tiếp về yếu tố lịch sử, nếu các yêu sách của Bắc Kinh biện minh được trên cơ sở lịch sử thì Việt Nam hay Philippines cũng dựa trên lịch sử để biện minh được, ông Mohan Malik khẳng định. Rút cuộc, cái gọi là “yêu sách lịch sử” của Trung Quốc đối với Biển Đông không phải là “hàng thế kỷ”
“Như vậy chẳng có chủ quyền gì cả”, ông khẳng định. Ảnh: Rappler Xét về “chứng cớ pháp lý”, rất nhiều chuyên gia pháp lý quốc tế đã đánh giá việc Trung Quốc tự cho mình cái quyền đồng ý cho các nước khác đi ngang qua Biển Đông là không hợp thức và bất hợp pháp.
Sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc thắng lợi năm 1949, họ đã chỉnh lại thành “đường 9 đoạn” sau khi xóa hai đoạn ở Vịnh Bắc Bộ năm 1953. Quan trọng hơn, điểm mâu thuẫn nằm ngay trong ý kiến về chủ quyền trên bộ và trên biển của nước này.
Tóm lại, theo giáo sư Mohan Malik, “vấn đề lịch sử” là rất phức tạp và chẳng thể giải thích một cách dễ dãi. Song, Bắc Kinh liên tiếp từ chối dự phiên tòa mà Manila chủ xướng, thậm chí còn gán cho Philippines hình ảnh xấu trước cộng đồng quốc tế khi nước này tiến hành việc được giới học giả cho là văn minh. Ngay cả khi các yêu sách lịch sử có giá trị nào đó, thì Mông Cổ còn có thể yêu sách quơ các khu vực tại châu Á, vì họ đã từng chinh phục các vùng đất của châu lục này.
Rõ hơn, trên AFP hồi cuối năm 2012, Giáo sư Cổ Khánh Quốc thuộc Đại học Quan hệ Quốc tế Bắc Kinh còn ngạo ngược cho rằng: “Mỹ có đảo Guam, rất xa Mỹ, ở châu Á, trong khi người Pháp lại có các đảo ở Nam thăng bình Dương, do đó, chẳng có điều gì mới ở đây cả”!? Nhưng khi đã nói tới lịch sử, giáo sư Mohan Malik cho biết: các đế chế tại châu Á thời xưa có đặc điểm là có các đường biên thuỳ không xác định, không được bảo vệ, và thường thay đổi, hay nói cách khác, không có đế chế nào của khu vực trước đây đã thực thi chủ quyền
Chính những người Malay-Polynesian mới là bậc thầy trong thám hiểm đại dương. Theo ông Mohan Malik, Bắc Kinh luôn đặt cược rất cao vào “yếu tố lịch sử” trong các chũm ngoại giao nhằm đạt đích của chính sách đối ngoại, nhất là để bắt các nhà nước khác nhượng bộ cương vực và ngoại giao.
Hơn nữa, do có sáu bên yêu sách ở Biển Đông, nên các tranh chấp tại khu vực là những tranh chấp đa phương đòi hỏi phân xử qua trọng tài quốc tế.
Trong khi đó, khi xét tới “bằng chứng lịch sử”, nếu có đi chăng nữa, cũng kém thuyết phục, ông Mohan Malik khẳng định trên Diplomat.
“Bằng lòng đường lưỡi bò là một sự chối bỏ về bản sắc và lịch sử thật sự của tiên sư người Việt Nam, Philippines, và Malaysia”, nhà bình luận Jay Batongbacal thuộc trường Đại học luật Philippines nhận định. Năm 2005, một bản đồ bãi cạn Scarborough do Hải quân Trung Quốc ban bố cũng chỉ là một bản sao dữ liệu một bản đồ Hải quân Mỹ.
“Đường lưỡi bò” phi pháp mà Trung Quốc vạch ra trên Biển Đông. Bên cạnh đó, khi nhắc tới truyền thống đi biển trong các yêu sách của mình, Bắc Kinh thường nhắc tới cuộc thám hiểm của Trịnh Hòa tới Ấn Độ Dương và Châu Phi đầu thế kỷ XV.
Trong cuốn “When China Rules the World – Khi Trung Quốc thống trị thế giới”, tác giả Martin Jacques nhấn mạnh rằng: nếu không được kiểm soát, sự kiêu căng đế quốc hay sự áp dụng quá nhiều “con bài lịch sử” sẽ có thể dẫn tới những hậu quả khó lường trên khu vực. Nhưng thực tại cho thấy trong các bản đồ nhà Thanh hay Mãn Châu, chính đảo Hải Nam mới là cực nam xa nhất của Trung Quốc, chứ không phải quần đảo Trường Sa hay Hoàng Sa của Việt Nam.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét