Trong nghề nghiệp của mình, tôi đã có hạnh ngộ được xúc tiếp với nhiều nhân vật khả kính thuộc các lĩnh vực khác nhau. Và phần nhiều những người vẫn được coi là trí giả tỉ thế thường rất chi tiết khi đề cập tới các chức danh của họ. Và không muốn bị quên những vị trí mà họ coi là quan yếu trong công việc của mình… tấn sĩ (TS) Đinh Thế Hiển thuộc về số ít những người không quá quan tâm tới tên gọi và chức vụ, chỉ chăm chú vào thực chất công việc. Và không khoan nhượng khi triển khai những suy tư của mình ngay cả trong những vấn đề bức xúc và mẫn cảm nhất. Nhưng như tôi kịp nhận thấy qua những lần anh tiếp xúc với báo chí, anh đủ độ tinh tế và tỉnh ngủ để không bị ướt chân khi đi sát mép nước… Anh là một người từng nghiên cứu lý thuyết rất sâu nhưng cũng đã trực tiếp tham dự điều hành công việc thực tế khá nhiều năm. Nhìn vào trích ngang của TS Đinh Thế Hiển, có thể thấy anh từng làm giám đốc sản xuất ở công ty cũng như tham gia vào ủy ban chiến lược phát triển của một ngân hàng danh giá… Cũng có lúc anh từng làm giám đốc viện nghiên cứu… TS Đinh Thế Hiển từng tham mưu và phụ trách thẩm định hơn 100 dự án đầu tư sản xuất kinh doanh và phát triển cơ sở hạ tầng của thành thị Hồ Chí Minh (Sagonmilk, Saigon Software Park, Khu công nghiệp Hiệp Phước, đường Hùng Vương, mạng cấp nước thành phố Hồ Chí Minh, Công viên phần mềm Quang Trung, các Trường Đại học Văn Lang, Tôn Đức Thắng, Hoa Sen…). Anh cũng đã tư vấn lập dự án đầu tư cho nhiều doanh nghiệp, Thí dụ như dự án đầu tư Nhà máy Ecolube, Dự án đầu tư Nhà máy phá hoang khoáng sản Lâm Đồng, dự án đầu tư Nhà máy nhựa Đạt Hòa, Nhà máy Xử lý rác, Công ty đầu tư hạ tầng thị thành Hồ Chí Minh, Khu resort Mimosa Đà Lạt, dự án đầu tư cao ốc Lũ Gia, Dự án Bến bãi và Trạm đăng kiểm Bình Chánh… Anh tham dự thực hiện nhiều đề tài cấp thành phố và Nhà nước… Anh cũng đã làm giảng sư đào tạo ở nhiều nơi. Anh từng dịch một số cuốn sách quan yếu thuộc lĩnh vực tài chính ngân hàng và cũng tự soạn những cuốn sách nghiên cứu về lĩnh vực này rất công phu… Thí dụ như các cuốn sách dịchQuản trị rủi ro ngân hàng(2012),Định giá tài chính(2010) hay các cuốnLập và thẩm định hiệu quả tài chính dự án đầu tư(tái bản lần thứ tư 2011),Excel áp dụng trong phân tích tài chính(tái bản lần thứ tư 2010)... Vốn không phải là người chuyên viết về chủ đề kinh tế tài chính nên trước cuộc gặp TS Đinh Thế Hiển trong một cuộc hội thảo về tín dụng tiêu dùng ở đảo Phú Quốc cuối tháng 6 vừa rồi, tôi chỉ được biết sơ sơ về anh qua những tài liệu báo chí. Tuy nhiên, thế cũng đủ để gây dựng trong tôi ấn tượng về một trí óc sắc sảo và chính trực. Và tôi cũng khâm phục sức làm việc rất sung mãn của anh: tần suất xuất hiện của anh trong các hoạt động nghiệp vụ cũng như trên các dụng cụ truyền thông luôn ở mức cao… Rất nhiều ấn phẩm trong nam ngoài bắc mỗi khi cần tìm hiểu những đánh giá về các hiện tượng mới và phức tạp trong đời sống kinh tế tài chính hiện thì đều tìm tới TS Đinh Thế Hiển… -Hồng Thanh Quang:Anh có thể cho biết con đường dẫn tới công việc hiện của anh như thế nào không? -TS Đinh Thế Hiển:Khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường, tiếp theo việc phát triển công nghiệp, thương mại và dịch vụ sẽ là phát triển thị trường vốn hao hao các nước phát triển. Tại Việt Nam, khi Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh thành tỉnh thành Hồ Chí Minh (HIFU) thành lập năm 1997 thì khái niệm Quỹ đầu tư và các sản phẩm của thị trường vốn còn rất xa lạ với giới kinh tế trong nước, trong khi với tốc độ phát triển của nền kinh tế rất cần hệ thống ngân hàng thương mại hiện đại và các định chế tài chính phi ngân hàng như Quỹ đầu tư. Do vậy tôi đã tụ tập theo hướng tài chính đầu tư. -Điều gì là tâm đầu ý hợp nhất trong nghiên cứu kinh tế tài chính của anh hiện nay? - Các giải pháp kinh tế tài chính trong một nền kinh tế thị trường cạnh tranh luôn là một hệ thống các giải pháp. Không có một giải pháp tốt nhất mà chỉ có một số giải pháp có tính khả thi và xác suất thành công cao hơn. Bởi thế đòi hỏi tính áp dụng uyển chuyển rất cao khi chọn và thực thi, tức thị vai trò của người quản lý cấp cao rất quan yếu. -Và đáng tiếc là trong thực tại hiện, không phải ai ngồi vào vị trí nhà quản lý cấp cao cũng tinh thần được tầm quan trọng này. Bởi vậy lắm khi các giải pháp đưa ra đốn mang tính dân túy nhiều hơn là cấp độ khả thi… Trong khi đó cơ chế thị trường luôn kèm theo những điều nghiệt ngã mà thiện chí thuần tuý chẳng thể nào giúp tìm ra lối thoát tối ưu… - (Cười):… -Theo anh, trong tình cảnh của chúng ta hiện nay, liệu có thể phối hợp hài hòa những đích dân sinh với tính hữu lý khách quan của cơ chế thị trường? Liệu có chăng mối mâu thuẫn trầm kha giữa lợi ích dân sinh với cơ chế thị trường? - Đích của quản lý kinh tế quốc gia là đem lại lợi ích cho người dân một cách bền vững dựa trên những nguồn lực hạn chế. Thực tại các nước phát triển cho thấy không có sự mâu thuẫn giữa lợi ích dân sinh và cơ chế thị trường. -Thực thụ là như thế? - Thực sự là như thế! Tất nhiên các nước Bắc Âu, Tây Âu, Bắc Mỹ và Nhật… có sự điều chỉnh chút xíu theo quan điểm và đặc điểm của từng quốc gia, nhưng mẫu số chung cho thấy mức sống của người dân cải thiện tốt theo sự phát triển kinh tế. Tại Việt Nam do hoàn cảnh kinh tế tiểu thủ công nghiệp chuyển mình sang kinh tế công nghiệp và thị trường, nên chi có nhiều khó khăn, hạn chế trong quá trình phát triển. Ngoại giả, trong thời đoạn tăng tốc kinh tế mạnh mẽ thì Việt Nam gặp phải 2 cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu chỉ trong vòng một thập niên cũng gây tác động rất lớn. Điều này buộc chính phủ phải đẩy mạnh hơn việc thực hành nhiệm vụ tái cấu trúc nền kinh tế để đáp ứng kịp với những điều kiện mới… -Tái cấu trúc nền kinh tế đang là một nhiệm vụ to lớn và khó khăn. Không chỉ riêng đối với chính phủ mà với tất tật nhà nước… - Đúng như thế. Nhưng tôi vẫn muốn tin là, một khi chính phủ tái cấu trúc được nền kinh tế theo hướng tăng trưởng bền vững thì chúng ta sẽ thấy mức sống của người dân và phát triển kinh tế cùng song hành tốt đẹp. -Cách nhìn của anh về tổng thể thị trường tài chính hiện giờ ở nước ta? Liệu những tín hiệu báo động hiện thực đến chừng độ nào? tại sao? - Thị trường tài chính Việt Nam bây giờ còn yếu nhưng không có rủi ro lớn. Yếu vì chúng ta mới bắt đầu phát triển thị trường vốn từ năm 2000 đồng thời với quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, sự điển tích vốn còn thấp và các định chế tài chính phi nhà băng cũng chưa đầy đủ. Tuy nhiên không có rủi ro lớn là do quốc gia vẫn kiểm soát khá tốt các nhà băng lớn, bên cạnh đó hệ thống ngân hàng thương nghiệp cho vay vẫn dựa trên tài sản bảo đảm là đốn, chưa có sản phẩm tài chính phái sinh và tái thế chấp mạnh như các nước phát triển (là tác nhân gây khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008). -Thời gian gần đây giá vàng diễn biến mau lẹ và nhìn chung là giảm khá mạnh, dù vẫn cao hơn khá nhiều so với giá vàng trên thị trường quốc tế. Điều này được coi là hệ quả thế tất của công tác điều hành từ phía nhà băng quốc gia… Nói một cách thẳng thắn, cá nhân anh nghĩ thế nào về cách điều hành giá vàng của chúng ta? Theo anh, tại sao giá vàng của chúng ta lại cao hơn thế giới một cách ngay như thế? Liệu có cách gì hữu hiệu để khắc phục hiện tượng này? - Do chúng ta không chủ trương liên thông giá vàng để tránh chảy máu ngoại tệ nên giá vàng trong nước có cao hơn giá vàng thế giới là cố nhiên. Tuy nhiên, chênh lệch lớn bây chừ có nguyên do lớn là do diễn biến giá vàng thế giới xuống quá nhanh trong vòng vài tháng. Điều này cũng tạo tâm lý không tốt. Sắp tới khi giá vàng thế giới ổn định và các nhà băng thương nghiệp tất toán vàng thì biên độ chênh lệch sẽ thu hẹp mạnh. Cách điều hành vàng của ngân hàng Nhà nước bây chừ đặt trong bối cảnh nền kinh tế cần phải kiềm chế lạm phát cao, biến động giá vàng thế giới rất mạnh, yêu cầu ổn định tỷ giá, Do vậy khi đánh giá về vấn đề này cần phải đặt trong bối cảnh và mục tiêu vận hành chính sách tài chính tiền tệ trong thời đoạn 2011 - 2013. -Những tín hiệu báo động đối với các nhà băng thương nghiệp của chúng ta đang vang lên rất thẳng tắp. Đánh giá của anh về chúng? - Điều đó biểu lộ cả 2 mặt tích cực và bị động. Khi nền kinh tế phát triển nóng trong tuổi 2006 - 2010, rất nhiều ngân hàng thành lập để cung ứng vốn cho thị trường bất động sản dẫn đến số lượng ngân hàng thương mại quá nhiều so với các nước trong khu vực, và khi bất động sản đóng băng thì nhiều nhà băng rơi vào khó khăn là cố nhiên. Nhưng đây không phải là hiện tượng cá biệt của Việt Nam mà các nước khu vực và các nước phát triển còn gặp tình trạng bạc hơn trong thời đoạn khủng hoảng 1997 và 2008 khiến chính phủ phải mất công sức nhiều năm để khắc phục. Còn mặt hăng hái là chúng ta dần dần vận hành theo cơ chế thị trường, theo các cơ chế điều hành kinh tế tài chính đương đại. Do vậy không có chuyện chính phủ sẽ cứu giúp tuyệt đối các nhà băng yếu kém mà sẽ quản lý theo cơ chế hỗ trợ - sàng lọc, do đó anh nào yếu mà không vậy, không có giải pháp tốt cố nhiên sẽ bị xử lý, sáp nhập. Chúng ta sẽ dần quen với việc có ngân hàng thua lỗ, thậm chí phá sản như các nước phát triển nhưng tổng thể thì hệ thống ngày càng được giám sát chặt chẽ, minh bạch hơn. -Thuốc đắng dã tật, đó sẽ là một quá trình đớn đau nhưng vượt qua được thì “cơ thể nền kinh tế” sẽ trở nên mạnh mẽ hơn? - Chắc chắn là như thế! -Như anh cũng vừa nhận định, thị trường bất động sản của chúng ta đang bị đóng băng. Với tư cách là một chuyên gia, anh có thể nói gì về triển vọng của thị trường bất động sản ở Việt Nam? Theo anh, tại sao chúng ta để cho thị trường bất động sản lâm vào tình trạng hiện? Liệu có lối thoát nào không? Dự đoán của anh về mai sau của thị trường bất động sản? - Thị trường bất động sản đóng băng hiện nay là do song hành với việc phát triển hạ tầng, phát triển thành thị cộng với hệ thống ngân hàng thương nghiệp tăng mạnh dẫn đến việc xuất hiện làn sóng đầu cơ quá lớn. Và khi đầu cơ quá mạnh làm giá cả tăng quá cao so với giá trị như năm 2007 - 2008 thì thế tất phải rơi vào giai đoạn bong bóng và sụp đổ. Chúng ta do chưa phát triển các dạng chứng khoán hóa, chứng khoán phái sinh và tái thế chấp về bất động sản như các nước phát triển nên không bị sụp đổ mà chỉ bị rơi vào trạng thái đóng băng. Dù rằng hiện bất động sản đang rất khó khăn nhưng ngành bất động sản là ngành kinh tế lớn đối với mọi nhà nước, và Việt Nam đang trong tiến trình phát triển mạnh, công nghiệp hóa và thành thị hóa nên chắc chắn bất động sản sẽ từng bước phục hồi và phát triển. -Đối với thị trường bất động sản ở Việt Nam, đâu là gót chân Asin? Đó có Thực sự là bong bóng xà phòng hay không? - Gót chân Asin trong bất động sản, đó là phần lớn các tổ chức phát triển bất động sản đều xây dựng và thực thi giải pháp kinh doanh theo hướng thu tiền một cục, điều này chỉ ăn nhập với thị trường đầu cơ. Bởi thế để phát triển thị trường bất động sản theo hướng bền vững thì các tổ chức kinh dinh bất động sản cần phải cấu trúc lại theo hướng các tổ chức tài chính đầu tư thực lực có nguồn vốn dài hạn làm nguyên tố chính trong chuỗi giá trị cung ứng kinh doanh bất động sản. -Liệu thực thụ người dân có cần những ngôi nhà gọi là “nhà ở tầng lớp” với giá rẻ hay không? - Tập quán và tâm lý người Việt thích làm chủ một căn nhà. Tuy nhiên ý kiến an cư lạc nghiệp gắn với việc làm chủ một căn nhà có thể sẽ không còn đúng với một xã hội công nghiệp hóa mà chúng ta đang trong thời đoạn đầu. Đối với người thu nhập trung bình trở xuống, tuyển lựa giữa việc sở hữu một căn nhà trả góp 10 - 15 năm hay nhà cho thuê đều có những ưu điểm và hạn chế trong môi trường sống đô thị. Như vậy khi hoàn cảnh thu nhập còn thấp, người dân rất cần có những căn nhà bán hoặc cho thuê giá rẻ với chất lượng hợp lý, tức thị không cần quá tiện nghi và vật liệu đắt tiền nhưng phải bảo đảm những tiêu chuẩn cơ bản về tính mỹ quan, chắc chắn, đủ công năng sinh sống. Việc phát triển nhà ở xã hội theo hướng này là rất cấp thiết, vấn đề là chất lượng cần phải được bảo đảm. -Trong bài phát biểu tại hội thảo về tín dụng tiêu dùng ở Phú Quốc vừa qua, tôi rất thích ý của anh khi giải đáp một nhà báo: Hoạch định kế hoạch phát triển kinh tế thì không nên quá lụy theo tâm hồn nhà văn… Anh có thể lý giải kỹ hơn? Làm sao để chúng ta có thể kết hợp một cách hữu lý nhất những đích nhân văn với các quy luật khách quan rất khô cứng của cơ chế thị trường? - “Làm theo năng lực - hưởng theo nhu cầu” là mục tiêu xuyên suốt mà chúng ta đeo đuổi. Tuy nhiên khi trình độ sản xuất chưa thể đáp ứng thì “cơ chế kinh tế thị trường có quản lý của Nhà nước” là mô hình hữu hiệu nhất bây giờ. Điều đó có tức thị việc hỗ trợ, trợ giúp người nghèo của chúng ta cần phải tính đếu nguyên tố khả thi, không để phá vỡ cấu trúc – quan hệ kinh tế thị trường đang là động lực phát triển kinh tế nhà nước. Ví dụ chúng ta có thể tìm cách tương trợ người thu nhập thấp có chỗ ở tử tế, nhưng đó không phải là bán rẻ cho người nghèo căn nhà với giá 300 triệu đồng trong khi giá thị trường là 1 tỷ đồng, vì như vậy cũng đồng nghĩa với việc cho họ 700 triệu đồng trong khi nhà nước không đủ nguồn lực cho hết mọi người sẽ xuất hiện cơ chế xin - cho, tạo một thị trường mua bán nhà ngầm… tức thị chúng ta cần có giải pháp cho việc tương trợ này nhưng phải có lộ trình và điều kiện. Nếu không nhìn rõ góc cạnh kinh tế vĩ mô để có giải pháp tổng thể thì chúng ta dễ sa vào chuyện viện trợ người nghèo nhưng rút cuộc cuộc sống của họ không phát triển hơn. Nguyên lý chung là trong việc giúp người nghèo mà không làm tổn hại động lực kinh tế thị trường là “tạo cho họ cần câu thay vì cho họ một rổ cá”. Một môi trường kinh tế mà bất kỳ ai từ người không có tài sản, người chưa được học hành tốt hay bị kém sức khỏe… vẫn có thời cơ tham dự và có thể phát triển nếu cụ tốt là cái mà chúng ta có thể làm được. Hướng tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng phát triển vững bền mà giờ chính phủ đang đeo đuổi có mang nguyên tố này. -Nghe anh nói, tôi bỗng nhớ tới một câu chuyện diễn ra cách đây gần hơn hai chục năm. Lúc đó ở Liên Xô, trong giai đoạn cuối cải tổ, một nữ danh ca opera người Nga là Galina Vishnevskaya, vợ của danh cầm cello Mstislav Rostropovich, trong một bài trả lời phỏng vấn có buột miệng nói rằng, đừng đưa tiền cho người nghèo, hãy đưa tiền cho người giàu… Thế là bà ấy đã bị “ném đá” tơi bời. Tuy nhiên, khi nghe bà ấy lý giải kỹ hơn về ý kiến của mình thì tôi lại thấy đồng cảm. Vì bà Galina cho rằng, nếu người ta nghèo vì không biết cách làm ăn thì càng đưa cho họ nhiều tiền thì họ càng tiêu một cách uổng phí. Còn người giàu do làm ăn giỏi nên có thêm tiền phát triển sinh sản sẽ càng làm gia tăng thêm phúc lợi chung của xã hội… Tóm lại là đầu tư cho người giàu bao giờ cũng hữu lý… - Một ý kiến hay… -Theo tôi, thì ý kiến của anh cũng tương tự như của bà Galina Vishnevskaya. Anh từng nói rằng, người nghèo thì phải chịu lãi suất cao hơn khi vay tiền. Anh có sợ bị tiếng rằng là kỳ thị người nghèo không? - Một nền kinh tế thị trường được quản lý tốt thì phần nhiều người giàu đều là người giỏi và có khả năng thay cao. Chủ trương phát triển doanh nghiệp của chúng ta không phải là khuyến khích tất mọi người đều đứng ra lập công ty kinh doanh mà tạo điều kiện cho người có quyết tâm và năng lực đứng ra kinh dinh. Chính những người này thành công trong kinh doanh sẽ tạo ra việc làm, giá trị gia tăng cho nền kinh tế và góp phần quan trọng để phát triển kinh tế quốc gia, tức là cho mọi người dân. Trong cơ chế thị trường, mọi người cần phải tuân theo nguyên lý công bằng về “thu nhập và rủi ro”. Khi một người mới khởi nghiệp (hoặc người nghèo) thì tính rủi ro mất vốn của nhà băng là rất cao (ngân hàng cũng chỉ là người giữ tiền cho người dân). Nên phải chấp nhận vay lãi suất cao hơn, nhưng bù lại nếu mình vay đúng và chịu khó thì mình hoàn toàn có thể dùng hiệu quả vốn vay để tạo ra lợi nhuận. Theo thời gian doanh nghiệp sẽ lớn lên (hay người nghèo ngày càng khá lên) thì mức an toàn tín dụng tăng lên và lãi suất giảm xuống, đó là tiến trình phát triển hợp lý mà mọi người cần cụ theo đuổi. Theo thống kê, những doanh nghiệp nhỏ (hay người nghèo) đã khá lên nhờ vay vốn thì không phải nhờ vay vốn lãi suất thấp mà chính là họ vay với mức hợp lý và dùng đúng mục đích vay vốn. Dĩ nhiên để tương trợ cho nhóm đối tượng đặc biệt khó khăn (người bị thiên tai, dân tộc thiểu số, đàn bà neo đơn…) thì việc ưu đãi lãi suất luôn là cần thiết, nhưng để làm chuyện này cần có chương trình với nguồn vốn riêng chứ không thể là chuyện cố nhiên, vận dụng đại trà. -Thực tiễn cho thấy, ở một số vùng nông thôn, nếu chúng ta cho dân cày vay với lãi suất ưu đãi mà không kèm theo những hướng dẫn, thậm chí “kèm cặp” phát triển sản xuất thì chỉ mới thực hành được nhiệm vụ làm yên dân trong một giai đoạn nhất quyết. Còn về lâu dài thì sẽ tiềm tàng nhiều bất trắc… - Anh nói hoàn toàn đúng! -Và quan yếu nhất vẫn phải là giúp người vay một vốn làm thành bốn lời, chứ không phải vay để rồi tiêu vào những công việc không hẳn đã thiết thân… - Tôi muốn nhắc lại, nguyên lý chung trong việc giúp người nghèo mà không làm tổn hại động lực kinh tế thị trường là “tạo cho họ cần câu thay vì cho họ một rổ cá”… -Theo anh, trong bối cảnh nền kinh tế chung như hiện, đâu là kênh bỏ vốn an toàn nhất? - Nhìn chung, trong bối cảnh thị trường bất động sản, chứng khoán chưa có dấu hiệu cải thiện như bây giờ thì thực tiễn cho thấy, gửi tần tiện vẫn được nhiều người lựa chọn. Thật sự, gửi tằn tiện vẫn được xem là kênh bỏ vốn an toàn nhất. -Thế nếu muốn phát triển sản xuất thì nên chú trọng vào những lĩnh vực gì? - Tất mọi lĩnh vực công-nông-ngư nghiệp và bất động sản… đều có vai trò quan trọng góp phần phát triển kinh tế. Mẫu số chung cho phát triển là nâng cao năng suất (vận dụng công nghệ, quy trình quản lý, ưu thế cạnh tranh, tương trợ nghiên cứu quốc gia) và phát triển chuỗi giá trị cung ứng - kinh dinh hiệu quả (chính sách quốc gia, dòng vốn hiệu quả, liên kết hợp tác). Tại Việt Nam, để nâng cao năng suất cần nhiều nguồn lực và chất xám đòi hỏi nhiều thời kì, nhưng việc phát triển chuỗi giá trị cung ứng - kinh dinh hiệu quả có thể khai triển ngay, vấn đề ở mỗi chuỗi giá trị cung ứng cần có vai trò nhạc trưởng của những doanh nghiệp đầu đàn có thực lực. -Cá nhân chủ nghĩa tôi thì nghĩ rằng, quan trọng hơn cả là phải công bằng trong cách đối đối với mọi thành phần của nền kinh tế. Thế nhưng, một số người trong chúng ta lại hay nói tới các chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME). Với nhân cách một chuyên gia, anh có thể chỉ ra, đâu là những bất cập trong cách nghĩ như vậy? - Hiện nay các doanh nghiệp SME luôn nghĩ mình là đối tượng phải được hỗ trợ từ vốn vay lãi suất thấp, cho đến các chính sách ưu đãi thuế hạn chế hàng ngoại nhập và cả thị trường. Trong khi vấn đề về vốn và thị trường phải do năng lực của người quản lý doanh nghiệp tự giải quyết là chính. Các doanh nghiệp và hiệp hội ngành nghề chỉ nên tụ tập kiến nghị chính phủ có những chính sách và cơ chế pháp lý để thúc đẩy và tạo môi trường kinh dinh cạnh tranh thông thoáng cho ngành nghề của mình. Trong việc kiến nghị này cũng nên có tính khả thi (tức thị trong khả năng của chính phủ) và không được “ăn gian”, nghĩa là kiến nghị có lợi cho ngành nghề mình nhưng không bởi thế mà vi phạm nguyên lý thị trường và làm bất lợi ngành nghề khác. Thí dụ một nhà máy hạt nhựa không thể cạnh tranh giá với hạt nhựa ngoại liền kiến nghị tăng thuế nhập hạt nhựa để nâng giá hạt nhựa ngoại. Điều này giúp mình bán được hàng nhưng lại làm các doanh nghiệp sinh sản hàng nhựa bị tăng giá thành… -Và đó hình như lại là căn bệnh còn khá phổ thông ở ta hiện thời, cứ làm sao để dễ mình… Nhưng làm thế nghĩa là gây khó cho những người khác và cả cơ quan quản lý ở cấp cao nhất… - Đúng là như vậy… -Xin cảm ơn tấn sĩ! |
Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2013
Không có một giải pháp tốt toàn bộ nhất
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét