Thứ Ba, 20 tháng 8, 2013

Thạch hộc trị hư nhược đã làm mới thần kinh.

DS

Thạch hộc trị suy nhược thần kinh

Liều dùng hằng ngày: 8 - 16g dưới dạng thuốc hãm, thuốc sắc hoặc thuốc bôi. Sắc uống. Sắc uống trong ngày. Sắc uống ngày 1 thang. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp sau:  Chữa suy nhược thần kinh, chóng mặt, nhức đầu, hoa mắt, ù tai, khó ngủ:   thạch hộc, kỷ tử, sa sâm, mạch môn, hạ khô thảo, mẫu lệ mỗi vị 12g; câu đằng 16g; địa cốt bì, trạch tả, táo nhân, cúc hoa, mỗi vị 8g.

Thạch hộc có vị ngon ngọt, hơi mặn, không độc, tính lạnh, có tác dụng bồi dưỡng thanh nhiệt, chỉ khát, sinh tân dịch chữa lao lực, gầy yếu, ho, sốt nóng, miệng khô khát, mồ hôi trộm, thiểu năng sinh dục ở nam giới, thủ túc và lưng đau nhức, nóng trong, đau dạ dày, viêm ruột.

Hoặc thạch hộc 4g, chè xanh 2g, hãm với nước sôi, uống hoặc súc, ngậm trong ngày. Chữa di, mộng tinh:  thạch hộc, kim anh, sa sâm, mạch môn, khiếm thực, liên nhục mỗi vị 12g; quy bản 8g. Cả thảy tán nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày. Chữa nóng trong, háo khát, thổ huyết:  thạch hộc, sinh địa, thục địa, sa sâm, đan sâm, thiên môn, ngưu tất, mỗi vị 16g; ngũ vị tử 3g.

Đỗ Huy Bích. TTƯT. Khi dùng, đồ chín, tẩm rượu thái nhỏ. Bộ phận dùng làm thuốc của thạch hộc là thân cành, thu hái về, cắt bỏ rễ và lá, rửa sạch, ngâm nước ủ cho mềm, bóc bỏ lớp màng mỏng bên ngoài rồi phơi và sấy khô.

Chữa viêm bọng đái kinh niên:  thạch hộc, sa sâm, thục địa, ngưu tất, vỏ núc nác mỗi vị 12g; kim ngân hoa 20g; mã đề, tỳ giải mỗi vị 16g. Thạch hộc. Chữa nha chu viêm, làm chắc chân răng:   thạch hộc, sinh địa, huyền sâm, sâm, quy bản, ngọc trúc, kỷ tử, thăng ma, mỗi vị 12g; kim ngân hoa 16g, bạch thược 8g sắc lấy 200ml nước đặc, uống một nửa và ngậm một nửa dung dịch.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét