Thứ Hai, 5 tháng 8, 2013

Một số nội dung mới sửa đổi, hay hơn bổ sung về hóa đơn, chứng từ theo Thông tư số 64/2013/TT-BTC

Cơ sở kinh dinh phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước luật pháp về tính chính xác của hóa đơn. Nguồn: internet

Dưới đây là một số nội dung mới quy định tại Thông tư số 64/2013/TT-BTC so với Thông tư số 153/2010/TT-BTC:

1. Về nội dung trên hóa đơn đã lập ( Điều 4)


Bổ sung trường hợp doanh nghiệp dùng phần mềm kế toán có dùng dấu phân cách số tự nhiên là dấu phẩy (,) sau chữ số hàng nghìn, triệu, tỷ, nghìn tỷ, triệu tỷ, tỷ tỷ và dùng dấu chấm (.) Sau chữ số hàng đơn vị trên chứng từ kế toán; chữ trên hóa đơn là chữ tiếng Việt không dấu thì các doanh nghiệp được tuyển lựa sử dụng chữ là chữ tiếng Việt không dấu và dấu phẩy (,), dấu chấm (.) Để phân cách chữ số ghi trên hóa đơn như trên. Dòng tổng tiền thanh toán trên hóa đơn phải được ghi bằng chữ. Các chữ không dấu trên hóa đơn phải đảm bảo không dẫn tới cách hiểu lệch lạc nội dung của hóa đơn.

Trước khi sử dụng chữ viết trên hóa đơn là chữ tiếng Việt không dấu và chữ số sử dụng dấu phân cách số tự nhiên là dấu phẩy (,) sau chữ số hàng nghìn, triệu, tỷ, nghìn tỷ, triệu tỷ, tỷ tỷ và dùng dấu chấm (.) Sau chữ số hàng đơn vị trên hóa đơn, các doanh nghiệp phải có văn bản đăng ký với cơ quan thuế và tự chịu bổn phận về tính xác thực của nội dung hóa đơn lập theo cách ghi chữ, chữ số đã đăng ký.

Ngoại giả tại điểm 3 Điều 4 cũng bổ sung quy định các trường hợp hóa đơn không một mực phải có đầy đủ nội dung bức, đó là: đối với doanh nghiệp dùng hóa đơn với số lượng lớn, chấp hành tốt pháp luật thuế, cứ đặc điểm hoạt động kinh dinh, phương thức tổ chức bán hàng, cách thức lập hóa đơn của doanh nghiệp và trên cơ sở yêu cầu của doanh nghiệp, Cục thuế coi xét và có văn bản hướng dẫn hóa đơn không nhất mực phải có tiêu thức “dấu của người bán”.

2. Về nội dung tạo hóa đơn tự in (Điều 6)

Để bảo đảm việc tạo hóa đơn điện tử đáp ứng các điều kiện quy định về hóa đơn, Thông tư cũng đã bổ sung về điều kiện và bổn phận của tổ chức cung ứng phần mềm tự in hóa đơn ( Điểm 3 Điều 6). Theo đó, Tổ chức cung ứng phần mềm tự in hóa đơn phải là doanh nghiệp có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (giấy chứng thực đăng ký doanh nghiệp), trong đó có ngành nghề lập trình máy vi tính hoặc xuất bản phần mềm, trừ trường hợp tổ chức tự cung ứng phần mềm tự in hóa đơn để dùng.

Ngoại giả, các đơn vị cung cứng phần mềm phải có bổn phận: Ghi thông báo tên, mã số thuế của tổ chức cung ứng phần mềm tự in hóa đơn lên các hóa đơn tự in của tổ chức, cá nhân chủ nghĩa; đảm bảo phần mềm tự in hóa đơn cung cấp cho một đơn vị tuân đúng những quy đinh về tự in hóa đơn; không in giả hóa đơn trùng với các mẫu trong phần mềm đã cung cấp cho doanh nghiệp; Lập thưa về việc cung cấp phần mềm tự in hóa đơn cho cơ thuế quan quản lý trực tiếp.

3. Về nội dung phát hành hóa đơn của tổ chức, hộ, cá nhân chủ nghĩa kinh dinh (Điều 9)

Kể từ ngày 01/7/2013 (ngày Thông tư có hiệu lực) khi cơ sở kinh dinh đã đặt in hóa đơn nhưng chưa dùng hết, hóa đơn có in sẵn tên, địa chỉ trên hóa đơn, nếu cơ sở kinh doanh đổi tên, đổi địa chỉ trên giấy chứng thực đăng ký kinh dinh nhưng không thay đổi mã số thuế và tổ chức, hộ và cá nhân chủ nghĩa kinh dinh vẫn có nhu cầu sử dụng hóa đơn đã đặt in thì thực hành đóng dấu tên, địa chỉ mới vào bên cạnh tiêu thức tên, địa chỉ đã in sẵn để tiếp tục dùng và gửi thông báo điều chỉnh thông tin tại thông báo phát hành hóa đơn đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp.

Trường hợp có sự đổi thay địa chỉ kinh doanh dẫn đến đổi thay cơ quan thuế quản lý trực tiếp, nếu tổ chức, hộ, cá nhân có nhu cầu đấu dùng số hóa đơn đã phát hành chưa sử dụng hết thì đóng dấu địa chỉ mới lên hóa đơn, gửi bảng kê hóa đơn chưa sử dụng và thông báo điều chỉnh thông báo tại thông tin phát hành hóa đơn đến cơ thuế quan nơi chuyển đến. Nếu tổ chức, hộ, cá nhân chủ nghĩa không có nhu cầu sử dụng số hóa đơn đã phát hành nhưng chưa sử dụng hết thì thực hành hủy các số hóa đơn chưa dùng và thông tin kết quả hủy hóa đơn với cơ thuế quan nơi chuyển đi và thực hành thông tin phát hành hóa đơn mới với cơ quan thuế nơi chuyển đến.

4. Về cách thức lập hóa đơn ( Điều 14):Thông tư quy định rõ hơn đối với một số trường hợp

- Trường hợp hóa đơn tự in hoặc hóa đơn đặt in được lập bằng máy tính nếu có phần còn trống trên hóa đơn thì gạch chéo bằng bút mực.

Các siêu thị, trọng tâm thương mại thành lập theo quy định của pháp luật được lập chung một hóa đơn Giá trị gia tăng (GTGT) cho tổng doanh thu người mua không lấy hóa đơn nảy sinh trong ngày (không phân biệt tổng giá trị thanh toán trên 200.000 đồng hay dưới 200.000 đồng). Trường hợp khách hàng mua hàng tại các siêu thị, trọng tâm thương mại (không phân biệt tổng giá trị thanh toán trên 200.000 đồng hay dưới 200.000 đồng) có đề nghị xuất hóa đơn, các siêu thị, trọng tâm thương mại phải lập hóa đơn GTGT cho từng khách hàng theo quy định.

Điều 14 cũng chỉ dẫn chi tiết cách lập một số tiêu thức cụ thể trên hóa đơn như sau:

- Trường hợp người bán quy định mã hàng hóa, dịch vụ để quản lý thì khi ghi hóa đơn phải ghi cả mã hàng hóa và tên hàng hóa.

- Các loại hàng hóa cần phải đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu thì phải ghi trên hóa đơn các loại số hiệu, ký hiệu đặc trưng của hàng hóa mà khi đăng ký luật pháp có yêu cầu. Thí dụ: số khung, số máy của ô tô, mô tô; địa chỉ, cấp nhà, chiều dài, chiều rộng, số tầng của ngôi nhà hoặc căn hộ…

- Các loại hàng hóa, dịch vụ đặc thù như điện, nước, điện thoại, xăng dầu, bảo hiểm…được bán theo kỳ nhất quyết thì trên hóa đơn phải ghi cụ thể kỳ cung cấp hàng hóa, dịch vụ.

5. Lập hóa đơn khi danh mục hàng hóa, dịch vụ nhiều hơn số dòng của một số hóa đơn (Điều 17)

Quy định bổ sung trường hợp khi bán hàng hóa, dịch vụ nếu danh mục hàng hóa, dịch vụ nhiều hơn số dòng của một số hóa đơn và cơ sở kinh dinh sử dụng hóa đơn tự in, việc lập và in hóa đơn thực hiện trực tiếp từ phần mềm và số lượng hàng hóa, dịch vụ bán ra nhiều hơn số dòng của một trang hóa đơn, Cục thuế xem xét từng trường hợp cụ thể để chấp thuận cho cơ sở kinh dinh được sử dụng hóa đơn nhiều hơn một trang nếu trên phần đầu của trang sau của hóa đơn có hiển thị: cùng số hóa đơn như của trang đầu (do hệ thống máy tính cấp tự động).

6. Thay đổi quy định kì hạn nộp ít tình hình sử dụng hóa đơn ( Điều 25)

Hàng quý, tổ chức, hộ, cá nhân bán hàng hóa, dịch vụ (trừ đối tượng được cơ quan thuế cấp hóa đơn) có trách nhiệm nộp mỏng tình hình dùng hóa đơn cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp.

Ít tình hình sử dụng hóa đơn quý I nộp chậm nhất là ngày 30/4; quý II nộp chậm nhất là ngày 30/7; quý III nộp chậm nhất là ngày 30/10 và quý IV nộp chậm nhất là ngày 30/01 của năm sau.

Ngoài ra, cũng tại Điều 25 có bổ sung thêm quy định: Hóa đơn thu cước dịch vụ viễn thông, hóa đơn tiền điện, hóa đơn tiền nước, hóa đơn thu phí dịch vụ của các ngân hàng, vé chuyển vận hành khách của các đơn vị tải, các loại tem, vé, thẻ và một số trường hợp khác theo chỉ dẫn của Bộ Tài chính không phải vắng đến từng số hóa đơn mà thưa theo số lượng (tổng số) hóa đơn. Cơ sở kinh doanh phải hoàn toàn chịu bổn phận trước luật pháp về tính chính xác của số lượng hóa đơn còn tồn đầu kỳ, tổng số đã sử dụng, tổng số xóa bỏ, mất, hủy và phải đảm bảo cung cấp được số liệu hóa đơn chi tiết (từ số…đến số) khi cơ quan thuế yêu cầu.

Theo tct.Vn


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét